Phương pháp rèn luyện nhẫn nại và bình thản




- The faster you go, the shorter you are. Albert Einstein

- Today's patience can transform yesterday's discouragements into tomorrow's discoveries. - Today's purposes can turn yesterday's defeats into tomorrow's determination. William Arthur Ward

- The longer I live, the more I read, the more patiently I think, and the more anxiously I inquire, the less I seem to know...Do justly. Love mercy. Walk humbly. This is enough. John Adams

- Patience is bitter, but its fruit is sweet.
Jean Jacques Rousseau

- Patience and time do more than strength or passion. La Fontaine

- All human wisdom is summed up in two words; wait and hope. Alexandre Dumas

- We could never learn to be brave and patient, if there were only joy in the world.
Helen Keller

__________________________________________________________

Trước một sự kiện hay một vấn đề, chúng ta thường có thói quen phản ứng ngay lập tức một cách máy móc, thiếu ý thức minh bạch, theo tình cảm hoặc quan niệm đã được lập trình sẵn trong bộ nhớ của tâm thức chúng ta. 

Điều gì trái ý thì khẩn trương đối kháng và cố gắng tống khứ, loại bỏ, khử trừ, hủy diệt; điều gì vừa lòng thì vội vàng chiếm hữu hoặc nỗ lực tầm cầu, nắm bắt, giữ gìn, phát triển.

Hai thái độ này mang sắc thái bản năng quán tính hơn là cảm tính hay lý tính trong sáng, đích thực.

Người có đủ trầm tĩnh sáng suốt, thường biết quan sát mọi sự mọi vật một cách khách quan, sẽ không vội vàng phản ứng một cách vô thức hoặc thiếu tỉnh thức như vậy, vì họ biết rõ rằng bất cứ điều gì xảy ra đều có nguyên do của nó trong qui trình vận hành tự nhiên và tất nhiên của luật nhân quả, báo ứng. Muốn thấu rõ bản chất của những sự kiện hay mọi vấn đề, chúng ta cần phải biết kham nhẫn, chịu đựng, kiên trì để lắng nghe, quan sát, thể nghiệm trung thực, trọn vẹn, trong bài học khám phá và nhận chân bản chất sự thật.

Chống đối và thỏa hiệp là hai trở ngại lớn lao cho đức tính nhẫn nại, nói cách khác, không thể có nhẫn nại khi tâm chúng ta đầy ắp sự bất mãn hoặc thỏa mãn. Vì vậy trên nghĩa rộng, nhẫn nại bao hàm những đối tượng vừa lòng, thỏa ý, vì nếu không có lòng kham nhẫn trước sự hấp dẫn, lôi cuốn của những đối tượng vừa lòng này thì tham ái sẽ dễ dàng sinh sôi nẩy nở và hậu quả là tâm chúng ta sẽ bị đắm chìm, dính mắc trong say mê, tham luyến. Tuy nhiên, nhẫn nại thường được nhắc đến khi đối trước những đối tượng bất bình, nghịch ý, dễ gây ra sợ hãi, bực tức, oán thù, nóng giận, ganh ghét, đố kỵ… và dễ tạo tác những hành động, lời nói, tư tưởng sai lầm, bất thiện, hại mình, hại người.

Ngay cả khi chúng ta cố gắng tu luyện với ý đồ loại bỏ phiền não khổ đau để đạt đến lý tưởng thanh bình an lạc, hoặc với mục đích mưu cầu sở đắc những khả tính siêu huyền, là đã biểu hiện sự yếu kém trong sức chịu đựng, kham nhẫn để học ra từ những phiền não khổ đau đó bản chất của thực tại ngay nơi sự sống hiện tiền. Điều chúng ta cần không phải là đạt được mà là thấy ra. Vô minh, tức không thấy ra sự thật, là khởi đầu của phiền não khổ đau, luân hồi sinh tử, không thể chấm dứt phiền não khổ đau khi vô minh còn đó, hay khi bản chất của thực tại vẫn chỉ là ảo tưởng trong tâm thức chúng ta. Vậy, trốn tránh hay rời bỏ thực tại hiện tiền để đuổi bắt một lý tưởng tương lai dù siêu việt đến đâu cũng chỉ là ảo tưởng, là thả mồi bắt bóng, vì đã không thấy ra rằng tất cả sự nhiệm mầu đều đã viên mãn ngay nơi thực tại hiện tiền này. Nhưng để thấy ra thực tại mầu nhiệm đó, chúng ta không thể tránh né sự thật mà cần phải có đủ can đảm, tinh tấn mới có thể kham nhẫn, chịu đựng tất cả mọi pháp đến và đi như những yếu tố cần thiết cho bài học từ bi và giác ngộ.

Khi nghe có một vị đạo sư ở một chân trời nào đó có thể truyền dạy những khả năng siêu việt như thiền định, thần thông, pháp thuật… hoặc hứa hẹn một thiên đàng an lạc giải thoát, thì ít người chịu đựng được lòng tham muốn của mình, chẳng chút ngần ngại, tìm mọi cách từ bỏ thực tại, lên đường bái sư học đạo, sẵn sàng tuân thủ mọi chỉ dẫn hay luật lệ qui định của ông ta, với hy vọng mau chóng đạt được trạng thái siêu huyền lý tưởng, mà bấy lâu người ấy hằng mơ ước. Nhưng lý do nào thúc đẩy những ước mơ lý tưởng đó? Đơn giản chỉ vì cái ngã không kham nhẫn nổi thực tại bất toàn, bất như ý, nên luôn luôn hướng đến tìm cầu một bản ngã an toàn, như ý.

Nhưng họ đâu biết rằng không có khả năng nào siêu việt hơn khả năng có thể kiên trì nhẫn nại trước những thử thách cam go đầy phiền não khổ đau để học ra bài học giác ngộ của chính mình, ngay trong cuộc sống, với một tâm bình thường giản dị. Đó là ý nghĩa của thời vị trung chính mà Kinh Dịch muốn nói: ”Dị giản nhi thiên hạ chi lý đắc hĩ, thiên hạ chi lý đắc nhi thành vị hồ kỳ trung hĩ”, nghĩa là, càng giản dị càng dễ thấu đạt đạo lý của cuộc sống, và có thấu đạt chân lý của cuộc sống thì mới thành tựu thực tại một cách trọn vẹn ngay đây và bây giờ.

Giác ngộ giải thoát không có nghiã là tìm đến một chân trời lý tưởng thường-lạc-ngã-tịnh, mà chính là thấy ra bản chất của đời sống là vô thường, khổ não, vô ngã, bất tịnh – mà chỉ có nhẫn nại mới đủ can đảm đối mặt để nhận chân sự thật bất như ý này – và nhờ đó tham sân si mới thực sự hoàn toàn đoạn tận để có thể ung dung trong ràng buộc, tự tại giữa khổ đau với một nụ cười bình an, vô úy. Cuộc sống, quả thật, có quá nhiều khổ đau nhiệt não, nhưng đó cũng chính là môi trường tuyệt vời nhất cho sự giác ngộ giải thoát, đúng như một danh ngôn đã nói: “Cảnh khổ là nấc thang cho bậc anh tài, là kho tàng cho người khôn khéo và là vực thẳm cho những kẻ yếu đuối”.

Người Việt Nam cũng có câu ca dao biểu hiện trí tuệ nhân gian rất chính xác :
Con người là kẻ học nghề,
Mà thầy là nỗi ê chề đớn đau,
Không ai tự biết mình đâu,
Nếu chưa từng trải đớn đau nhiều bề.

Vậy cuộc đời là một trường học giác ngộ rộng lớn bất tận và những vị đạo sư tài ba nhất chính là những cảnh ngộ mà chúng ta gặp phải trong suốt đời mình, hay nói cách khác, đó là những tấm gương phản ánh trung thực nhất mặt mũi chúng ta trong mọi tình huống. Và bài học giác ngộ chính xác nhất không phải là một phương pháp cố định nỗi tiếng nào để chúng ta phải luôn luôn tuân thủ, mà chính là những diễn biến trong thái độ phản ứng của chúng ta ngay nơi sự tương giao với từng cảnh ngộ hàng ngày.

Ví dụ, khi bạn gặp một người ca ngợi hay mạt sát mình, đó là vị đạo sư đang chỉ cho bạn thấy chính xác nhất phản ứng của bạn ngay lúc đó là gì, đang vui mừng hay đang oán giận. Vậy mà bạn không chịu thấy ra sự thật ngay tại hiện trường thân-tâm-cảnh ấy. Bạn để nó qua đi, rồi loay hoay tìm cây đủa thần trân quí mà một vị đạo sư nỗi tiếng nào đó đã truyền cho, với hy vọng ngày qua ngày bạn sẽ tìm kiếm được cái đã chìm sâu vào dĩ vãng vô thức. Nhưng thực tại là phải thấy ngay (sandiṭṭhiko), trên chính nó (opanayiko), không thể đợi thời gian (akāliko) cho một cái thấy mai sau đầy hứa hẹn. Nếu bạn để mất thực tại hiện tiền thì chẳng bao giờ bạn tìm thấy nó ở bất cứ nơi đâu và lúc nào khác nữa, trừ phi đó chỉ là dư tưởng của một thời đã qua không bao giờ trở lại.

Để có thể thấy rõ bản chất thực tại ngay đây và bây giờ, không có cách nào khác hơn là chúng ta phải kham nhẫn với những gì khó kham nhẫn. Nếu bạn khởi lên bất cứ một lực đối kháng nào thì lòng kiên nhẫn lập tực biến mất, để lại một nỗi khổ đau tâm lý khó chịu hơn nhiều. Nhưng kham nhẫn cũng không có nghĩa là buông xuôi hay chấp nhận phiền não khổ đau, vì chấp nhận tức là đành chịu bó tay hay buông tay đầu hàng khi không còn khả năng hoặc phương cách nào để kháng cự, đó không phải là nhẫn nại. Chấp nhận và phủ nhận là hai mặt của cùng một tính cách, có vẻ như mâu thuẫn, nhưng thật ra cũng chỉ cùng phát xuất từ một thái độ của bản ngã được thay đổi chiều hướng mà thôi.

Nhẫn nại là thái độ đón nhận mọi sự kiện đến đi một cách trầm tĩnh, sáng suốt của bậc thiện trí thức, khi thấy rằng đó là sự vận hành tất yếu và chính xác của pháp trùng trùng duyên khởi. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt, như một chuỗi nhân quả liên quan sinh sinh diệt diệt. Không có cái gì sinh mà không có nguyên nhân của nó. Có trái xoài vì có cây xoài, có cây soài vì có giống xoài v.v. và v.v. Bạn tách rời hiện tại ra khỏi chuỗi vận hành của nó rồi gán vào đó những điều kiện ngoại lai do bạn tưởng tượng ra một cách chủ quan hoặc những nguyên nhân do bạn tin theo một chủ thuyết triết học, tôn giáo nào đó. Thế là bạn không cần kiên nhẫn để lắng nghe, chiêm nghiệm, học hỏi trực tiếp và sáng tạo từ bản chất của thực tại ngay đây và bây giờ. Bạn đã quen đánh giá, phê phán, kết luận theo những công thức đã có sẵn từ kiến thức vay mượn bên ngoài, hoặc từ những giáo điều, kinh điển người xưa truyền lại. Nhưng chân lý chỉ có trong thực tại, không ở quá khứ hay tương lai trong tâm tưởng của bạn.

Nhẫn được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau cho phù hợp với từng hoàn cảnh trải nghiệm: Nhẫn nại hay nhẫn nhịn là sẵn sàng tự nguyện nhường bước trước những áp lực mà không sợ hãi, không đối kháng, không thỏa hiệp. Ví dụ như trường hợp đức Phật, trước sự trấn áp hung dữ, ương ngạnh của dạ-xoa Alavaka, Ngài vẫn nhẫn nại, khiêm hòa, không tỏ thái độ bực tức, khinh mạn, ghét bỏ, kinh sợ hay khiếp phục, và cũng không tỏ ra thái độ thù nghịch, đối đầu. Nhưng cũng chính vì vậy mà cuối cùng dạ-xoa Alavaka là kẻ chinh phục hiếu thắng lại bị khuất phục trước đức tính nhu hòa nhẫn nhịn của Phật.

Kham nhẫn là chịu đựng được những hoàn cảnh khó chịu đựng. Ví dụ như kham nhẫn với cảm giác đau đớn, thời tiết khắc nghiệt; kham nhẫn khi phục vụ những người già yếu, bệnh tật, trái tính; kham nhẫn trước những lời chỉ trích đàm tiếu v.v. Người thường chánh niệm tỉnh giác thấy rõ những cảm giác đau đớn hay những cảm xúc khó chịu vẫn trầm tĩnh sáng suốt, nên dễ dàng kham nhẫn trước những áp lực kịch liệt. Nhưng người thiếu tỉnh thức đôi lúc chỉ một vết bẩn trên áo, một tiếng muỗi vo ve, một mùi hương hơi nòng, một tách trà nhạt nhẽo, hay một chỗ ngồi nhám thô… cũng đủ làm cho họ bực mình, cáu kỉnh. Tính dễ nóng nảy, bất bình, dù chỉ với những chuyện hết sức nhỏ nhặt bình thường, là dấu hiệu của sự thiếu kham nhẫn, và cũng là triệu chứng của suy nhược thần kinh. Hãy coi chừng, tính dễ bất bình, nôn nóng càng cao thì đức kham nhẫn càng thấp và ngược lại.

Kiên nhẫn là sức chịu đựng bền bĩ lâu dài đủ để thực hiện và hoàn tất một công việc nào đó, dù khó khăn gian khổ đến đâu cũng vẫn không sờn lòng, nản chí. Nhiều người khởi sự rất hăng say nồng nhiệt nhưng khi gặp trở ngại thì liền buông xuôi, chùn bước, thậm chí nản lòng bỏ cuộc nữa chừng. Đó là vì thiếu lòng kiên nhẫn, thiếu sức chịu đựng bền lâu. Khi chờ đợi một người nào hay một việc gì, bạn càng nôn nóng bao nhiêu thì càng khó kiên nhẫn bấy nhiêu và vì vậy, dĩ nhiên, áp lực của sự căng thẳng càng gia tăng gấp bội.

Nhẫn nhục không có nghĩa là đành chịu chấp nhận nhục nhã vì vô phương chống đỡ, vì mục đích đợi thời cơ trả thù rửa hận, hay để được thăng quan tiến chức… như nhiều người thường nghĩ. Có thể nói nhẫn nhục là đức tính khó nhất trong tất cả loại nhẫn. Trước sự vu khống, mạ lỵ, cướp bốc, đàn áp, trong cơn hành hạ, tra tấn, tàn nhẫn, hung bạo… mà vẫn nhẫn nhục chịu đựng được không một chút động tâm thì quả là siêu phàm nhập thánh.

Không ai thích khó khăn, đau khổ, vì tất nhiên, khổ đau là điều rất khó chịu. Người thiếu trầm tĩnh sáng suốt sẽ lập tức tìm cách loại trừ hay tránh né những gì gây ra khó chịu. Nhưng không phải tất cả điều gì khó chịu cũng đều vô ích hay có hại. Có thể nói phần lớn khổ đau giúp chúng ta rất nhiều phương diện nếu chúng ta biết lắng nghe, chiêm nghiệm, học hỏi:

- Những đức tính nhẫn nại như kham nhẫn, kiên nhẫn, nhẫn nhục, nhẫn nhịn v.v., mà chúng ta vừa đề cập ở trên, không thể phát huy nếu không nhờ trải qua những thử thách trắc nghiệm của khó khăn gian khổ.

- Càng gặp nhiều gian khó sức chịu đựng càng cao, sức chịu đựng càng cao, tâm càng nhiều an lạc. Ngược lại, càng muốn sống dễ dàng, sức chịu đựng càng thấp, và do đó tâm cũng đầy lo âu sợ hãi.

- Người có thể nhẫn nại trước những nỗi khổ đau, thường ít bực tức, nóng giận nên tâm trở nên hiền lương, mát mẻ, dịu dàng… đó là biểu hiện của lòng nhân từ bác ái. Đồng thời người có đức nhẫn nại thường biết cảm thông với những nỗi khổ đau của kẻ khác, nên lòng bi mẫn của họ ngày càng rộng mở. Người nhẫn nại cũng dễ dàng bình thản trước mọi thăng trầm, đó là dấu hiệu của tâm xả, một nội tâm thăng bằng, không thiên lệch trong ưa ghét, khổ vui, lâý bỏ. Mỗi khi nhẫn nại được tâm chúng ta cũng cảm thấy an vui, hoan hỷ. Vì vậy, có thể nói, nhẫn nại là tiền trạm của bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả.

- Có thấy khổ, biết khổ, trải nghiệm khổ, thực chứng khổ… thì mới phát hiện được những nguyên nhân sai lầm đưa đến khổ đau phiền muộn. Nôn nóng và mong cầu (vì thiếu kham nhẫn) là hai trở ngại cho sự thấy biết như thật.

------------------------------------------------------------------------

- Anh càng đi nhanh, anh càng đi được ít. 

- Sự kiên nhẫn của ngày hôm nay có thể biến những nản lòng của ngày hôm qua thành khám phá của ngày mai. Những mục đích của ngày hôm nay có thể biến những thất bại của ngày hôm qua thành quyết tâm của ngày mai. 

- Tôi càng sống lâu, đọc nhiều, kiên nhẫn hơn và lo lắng tìm hiểu nhiều hơn, tôi dường như càng biết ít đi... Hãy biết vừa phải. Có lòng khoan dung. Sống nhún nhường. Như thế là đủ. 

- Bạch đầu giai lão thực ra chẳng liên quan gì đến tình yêu, chỉ đơn giản là nhẫn nại… Thế nhưng, nhẫn nại cũng chính là một loại tình yêu. Vì thế, người thực sự yêu bạn, thực chất chính là người luôn tỏ ra nhẫn nại với bạn. 

- Sự kiên nhẫn đắng chát, nhưng quả của nó lại ngọt. 

- Lòng kiên nhẫn và thời gian làm được nhiều hơn là sức mạnh hay nhiệt huyết. 

- Tất cả sự khôn ngoan của con người được tập hợp lại trong hai từ; chờ đợi và hy vọng. 

- Chúng ta không bao giờ có thể học được sự can đảm và kiên nhẫn nếu chỉ có niềm vui trên thế gian này.

Nguồn: http://phatgiaovnn.com/

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

CHUYỆN ÔNG TƯ CHẾT

Qua và Bậu trong văn thơ Nam Bộ

SÁU LÝ DO SỐNG KHÔNG NÊN QUÁ TIẾT KIỆM